Nguy cơ con bị dị tật do mẹ bị thủy đậu khi mang thai

Thủy đậu khi mang thai là nỗi lo lắng của rất nhiều phụ nữ không thời kỳ thai nghén. Bà bầu bị thủy đậu (hay còn gọi là trái rạ) có nguy cơ biến chứng sang viêm phổi, ảnh hưởng đến hệ thần kinh,thai nhi có nguy cơ bị sảy thai, thai lưu, dị tật…

Biểu hiện thủy đậu ở phụ nữ mang thai

Bệnh thủy đậu khi mang thai biểu hiện ban đầu dưới dạng phát ban đỏ rất ngứa, ban lan từ thân mình lên cổ, mặt và lan ra chân tay. Trong vòng 10 ngày, ban tiến triển từ các mụn đỏ thành các mụn (bọng) nước, các mụn nước này vỡ ra, chảy nước và đóng vẩy. Các mụn nước cũng có thể xuất hiện trong miệng, trên da đầu, xung quanh mắt, trên bộ phận sinh dục… và có thể rất ngứa.

Chu kỳ này tự lặp lại ở các vùng mới của cơ thể cho tới khi lành bệnh, sau khoảng 2 tuần, tất cả các vết loét đã lành. Bệnh rất dễ lây cho tới khi tất cả các tổn thương thủy đậu đã khô và không có tổn thương thủy đậu mới trong ngày. Thật không may, vi-rút cũng rất dễ lây trong tối thiểu 1 ngày trước khi ban bùng phát.

tiem-phong-thuy-dau-truoc-khi-mang-thai-me-bau-can-biet

Ở trẻ em đã được tiêm phòng một mũi/liều vắc-xin thủy đậu thì vẫn có thể mắc bệnh thủy đậu nhưng biểu hiện nhẹ hơn và ngắn hơn, kéo dài 3 – 5 ngày với tổng số chỉ có dưới 30 tổn thương thủy đậu. Các ban này có thể vẫn dễ lây cho người có hệ thống miễn dịch kém. Để phòng tránh bệnh thủy đậu, kể cả các thủy đậu thể nhẹ, thì hiện này có khuyến cáo tiêm 2 liều vắc-xin thủy đậu cho tất cả mọi người.

Biến chứng nguy hiểm khi bà bầu bị thủy đậu khi mang thai 3 tháng đầu

Đối với mẹ

Phụ nữ từng nhiễm bệnh thủy đậu trước khi mang thai hoặc đã được chủng ngừa bệnh thủy đậu thì miễn dịch với bệnh này, trong cơ thể đã có kháng thể chống lại bệnh. Do đó, khi mang thai, những thai phụ đã có kháng thể chống lại bệnh thủy đậu không phải lo lắng về biến chứng của bệnh đối với bản thân họ cũng như thai nhi.

Nguy cơ cho con

Đối với những thai phụ mắc bệnh thủy đậu nguyên phát khi mang thai, sự ảnh hưởng của bệnh trên thai nhi tùy vào từng giai đoạn tuổi thai:

– Trong ba tháng đầu thai kỳ, đặc biệt là tuần lễ thứ 8-12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0,4%. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần. Ngoài ra, có thể gây sẩy thai hoặc thai chết lưu.
– Trong ba tháng giữa, đặc biệt là tuần 13-20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%.
– Sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ, hầu như không ảnh hưởng trên thai.

Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng năm ngày trước sinh và hai ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lan tỏa do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỷ lệ bé sơ sinh tử vong lúc này lên đến 25-30% số trường hợp bị nhiễm. Để tránh nguy cơ lây bệnh cho con, ngay sau sinh bé cần được dùng varicella zoster immune globulin và cách ly với mẹ.

Điều trị thủy đậu cho bà bầu

Thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm.

Vì thai phụ có nguy cơ cao do biến chứng của bệnh thủy đậu: nên dùng varicella – zoster immune globulin (VZIG) đối với những thai phụ có phơi nhiễm với bệnh mà những thai phụ này chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chủng ngừa .
Việc dùng VZIG không phòng ngừa được nhiễm trùng bào thai, hội chứng thủy đậu bẩm sinh cũng như bệnh thủy đậu sơ sinh

Như vậy, việc dùng VZIG cho thai phụ chỉ phòng ngừa biến chứng nặng ở mẹ chứ không giúp ích cho thai nhi hoặc trẻ sơ sinh.

Để dự phòng biến chứng cho trẻ, nên dùng VZIG cho bé sơ sinh.

Đối với thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu diễn tiến nặng có nguy cơ viêm phổi nên được tư vấn dùng Acyclovir đường tĩnh mạch để giảm nguy cơ cho cả mẹ và thai. Acyclovircó vai trò ức chế sự phát triển của virus nên ức chế sự phát triển của bệnh.

Zovirax (acyclovir), là thuốc cần kê đơn, rất hữu ích trong việc rút ngắn thời gian của các triệu chứng bệnh thủy đậu nếu được sử dụng ngay trong ngày xuất hiện triệu chứng. Hầu hết các chuyên gia đều nhất trí rằng thuốc này và những thuốc tương tự nên được sử dụng cho trẻ em mắc bệnh thủy đậu có biến chứng phổi và não. Các nhiễm trùng ít nghiêm trọng hơn, một số bác sĩ khuyến cáo sử dụng thuốc này trong khi một số bác sĩ khác thì không.

Varizig, một thuốc đã được FDA phê chuẩn, dành cho trẻ em và người lớn có hệ miễn dịch yếu, trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai, trẻ sinh non, trẻ em dưới 1 tuổi, và người lớn không có miễn dịch với vi-rút thủy đậu. Varizig được sử dụng tối thiểu 2 liều tiêm tĩnh mạch, tùy thuộc vào trọng lượng cơ thể của bệnh nhân, trong vòng 96 giờ sau khi phơi nhiễm.

Ngoài ra, bác sĩ có thể khuyến cáo sử dụng thuốc kháng histamin (thuốc cần kê đơn), như Benadyl hoặc Zyrtec, để làm giảm đau, ngứa, và phù nề. Thuốc kháng sinh được chỉ định cho các trường hợp nhiễm trùng da thứ phát do vi khuẩn hoặc những người bị thủy đậu có bội nhiễm phổi (viêm phổi do vi khuẩn).

Ngăn ngừa bệnh thủy đậu

– Nên chủng ngừa bệnh thủy đậu khi còn bé hoặc ít nhất 3 tháng trước khi mang thai.
– Khi mang thai nên tránh tiếp xúc với người bệnh thủy đậu.
– Giữ vệ sinh môi trường và vệ sinh thân thể tốt.

Thủy đậu khi mang thai nên ăn gì?

Người bị bệnh thủy đậu cần bổ sung lượng nước đầy đủ cho cơ thể, có thể là nước lọc, nhưng tốt nhất là các loại nước ép từ trái cây tươi. Nước trái cây còn giúp tăng cường hệ miễn dịch.

Rau tươi và trái cây tươi giàu vitamin A và C, bio-flavonoid. Các vitamin giúp tăng cường hệ miễn dịch. Đồng thời bổ sung thực phẩm giàu kẽm, magiê, canxi để kích thích hệ miễn dịch. Một số loại rau tốt cho bệnh nhân thủy đậu: cải bắp, cà rốt, rau bina, dưa chuột, bông cải, giá sống, cà chua.

Những người bị mụn nước ở miệng thì chỉ nên ăn thức ăn mềm, nhạt, dễ nuốt dễ tiêu hóa như cháo, khoai tây nghiền, nước canh, súp sẽ giúp bổ sung chất dinh dưỡng, tăng cường hệ miễn dịch.

Một số món ăn tốt cho người bị bệnh thủy đậu

Nước tam đậu, cam thảo:

Đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, mỗi thứ 100g, cam thảo bắc 2g.
Nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml, chia 2 – 3 lần cho trẻ uống trong ngày.

Các món canh ngon từ rau ngót và thịt heo:

Đậu xanh, củ năng, rễ tranh, đọt tre non, cà rốt, mỗi thứ 20 – 30g. Nấu với 1 lít nước, sắc còn 650ml, chia 2 lần cho trẻ uống trong ngày (nếu trẻ bị suyễn, ho, thì không dùng củ năng và cà rốt). Món canh này có tác dụng tư nhuận, hạ hỏa, rất có ích cho người bị thủy đậu, sốt cao, người nóng bứt rứt.

Nước rau sam

Khi bị thủy đậu, có thể dùng rau sam tươi 100 – 120g, rửa thật sạch, ép lấy nước, uống trong ngày. Nước rau sam có tác dụng giải nhiệt, kháng viêm, ngừa mụn nhọt, rất tốt cho người bị thủy đậu.

Nước kim ngân hoa

Kim ngân hoa 10g, nước mía 20ml. Nấu với 500ml nước, sôi khoảng 10 phút. Ngày uống một lần, uống liên tục 7 – 10 ngày, để giúp sơ phong thanh nhiệt, hạ sốt.

Cháo đậu đỏ, ý dĩ

Ý dĩ nhân 20g, đậu đỏ 30g, thổ phục linh 30g, gạo tẻ 100g. Tất cả rửa sạch, nấu với lương nước thích hợp thành cháo. Chia ăn 3 lần trong ngày, với ít đường cát trắng hoặc đường phèn.
Món cháo này có tác dụng giải độc trừ thấp, đặc biệt thích hợp cho thủy đậu đã được ra, nhưng vẫn còn sốt, nước tiểu vàng đỏ, người mệt mỏi, chán ăn.

Cháo đậu, thịt heo

Gạo tẻ 80g, đậu đỏ 30, đậu xanh 30g, thịt heo băm nhỏ 50g. Tất cả nấu với lượng nước thích hợp thành cháo nhừ. Dùng ăn vào lúc đói bụng. Món cháo này dễ tiêu, rất tốt cho người bệnh thủy đậu, có sốt nhẹ.

Comments

comments

Leave a Reply

Bác sĩ tư vấn MIỄN PHÍ - 091 136 6868