Độ mờ da gáy- Tất cả những điều mẹ bầu cần biết

Mang thai, việc cần làm nhất mà các mẹ thường nhắc nhở nhau đó là đo độ mờ da gáy. Vậy độ mờ da gáy quan trọng như thế nào? Xét nghiệm này có nguy hiểm đến mẹ và bé hay không? Hãy cùng đi tìm hiểu về xét nghiệm vô cùng quan trọng trong thai kỳ này để biết xem thai nhi có an toàn và khỏe mạnh hay không?

1. Độ mờ da gáy bao nhiêu là an toàn?

Đo độ mờ da gáy cần được tiến hành trong khoảng tuần thai 12-14. Việc xét nghiệm trong tuần thai 11 trở về trước và sau tuần thai thứ 14 sẽ không cho kết quả chính xác để dự đoán.
Độ mờ da gáy càng cao thì tỉ lệ bé bị các bất thường nhiễm sắc thể càng lớn. Trong đó vấn đề phổ biến nhất khi độ mờ da gáy cao cảnh báo là bé sẽ mắc bệnh down.

Theo đó, khi độ mờ da gáy của bé <2,5mm được xem như là bình thường. Nhưng nếu độ mờ da gáy của bé vượt qua ngưỡng 3mm thì là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm.

Khi độ mờ da gáy của bé ≥ 3 mm thì bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm chọc ối để có kết quả chính xác nhất.

Không chỉ bệnh down mà độ mờ da gáy lớn còn cảnh báo các vấn đề khác ở thai nhi như bệnh tim mạch, rối loạn nhiễm sắc thể.

Như vậy trả lời thắc mắc độ mờ da gáy bao nhiêu là an toàn thì mốc nguy hiểm cho mẹ bầu là 3mm mẹ nhé.

độ mờ da gáy

đo độ mờ da gáy là một xét nghiệm quan trọng giúp phát hiện sớm hội chứng Down

2. Cách tiến hành đo độ mờ da gáy

NT thường được thực hiện vào tuần 11-14 (có thể là 11-13 tuần 6 ngày) của thai kỳ. Trước tuần thứ 11, kỹ thuật đo là khó khăn vì bào thai còn quá nhỏ, sau tuần thứ 14, da gáy sẽ trở về bình thường (không có nghĩa là thai bình thường) nên việc đo độ mờ da gáy không còn ý nghĩa.

Kỹ thuật đo chủ yếu thực hiện qua siêu âm nhưng một số trường hợp, tiến hành thêm chụp âm đạo cho người mẹ, để có kết quả chính xác. Không có bất kỳ nguy hiểm nào cho mẹ và bé trong quá trình thao tác.

Để tính tuổi của bào thai, bác sĩ dùng một máy đo, gọi là sonographer, ước lượng chiều dài của bé từ đỉnh đầu đến cuối xương sống. Sau đó, bác sĩ tiếp tục đo độ mờ da gáy. Khoảng mờ này là một đường trắng xuất hiện sau gáy trong khi khu vực xung quanh đó có màu tối hơn. Chính vì thế, kỹ thuật này còn được gọi là đo khoảng sáng sau gáy.

Qua màn hình siêu âm, bạn có thể nhìn thấy các bộ phận của con như đầu, xương sống, chân, tay.

3. Khi nào nên đo độ mờ da gáy?

Nhiều trường hợp mẹ bầu đi siêu âm cho kết quả thai nhi vẫn đang phát triển tốt, nhưng khi sinh ra chẳng may bé lại gặp vấn đề bất thường nào đó. Nguyên nhân có thể do mẹ đã bỏ qua thời điểm quan trọng cho các cuộc kiểm tra. Chính vì vậy, mẹ bầu cần lưu ý kiểm tra thai định kỳ theo sự hướng dẫn của bác sĩ, trong đó có siêu âm độ mờ da gáy.
Việc đo độ mờ da gáy được chỉ định bắt buộc thực hiện ở tuần 11-14 của thai kỳ. Theo các chuyên gia nếu đo quá sớm, da gáy sẽ rất mờ vì thai nhi lúc này còn quá nhỏ. Nếu để quá 14 tuần, kết quả độ mờ da gáy lại trở về mức bình thường, bởi sau 14 tuần bất kỳ chất lỏng gáy dư thừa sẽ được hấp thụ bởi hệ thống bạch huyết của bé. Lúc này, kết quả siêu âm đo độ mờ da gáy không còn ý nghĩa.

4. Một số điều mẹ bầu cần biết về độ mờ da gáy và Hội chứng Down

Siêu âm khảo sát độ mờ da gáy là một xét nghiệm sàng lọc, chứ không phải là một xét nghiệm chẩn đoán, nó chỉ đánh giá xem thai nhi có khả năng bị dị tật thai nhi hay cụ thể là hội chứng Down hay không.
Hội chứng Down là một tình trạng rối loạn nhiễm sắc thể gây ra bởi sự hiện diện một phần hoặc toàn bộ nhiễm sắc thể 21 (nghĩa là có 3 nhiễm sắc thể 21).
Tỉ lệ mắc hội chứng Down được ước tính là 1 trên 733 ca sinh, nó được thống kê phổ biến với cha mẹ lớn tuổi. Hội chứng Down xảy ra trong tất cả các quần thể của con người không phân biệt chủng tộc hay ranh giới địa lý.
Thông thường hội chứng Down có liên quan với sự suy giảm khả năng nhận thức và phát triển thể chất điểm nổi bật là có một khuôn mặt rất điển hình (khuôn mặt Down). Trẻ em bị hội chứng này thường có xu hướng chậm phát triển tâm thần trí tuệ và khả năng vận động.
Khi một đứa trẻ bị hội chứng Down nó có thể có một số hoặc tất cả các đặc điểm sau: cằm nhỏ, gương mặt nhô, lưỡi quá khổ, đôi mắt có hình quả hạnh nhân, mí mắt trên và dưới tách biệt, chân tay ngắn, lòng bàn tay có một nếp gấp ngang, các ngón chân dị dạng, trương lực cơ yếu.
Khuyết tật bên trong cơ thể bao gồm một số nguy cơ như: bệnh tim bẩm sinh, bệnh trào ngược dạ dày, viêm tai mãn tính, ngưng thở khi ngủ, và rối loạn chức năng tuyến giáp.

Comments

comments

Leave a Reply

Bác sĩ tư vấn MIỄN PHÍ - 091 136 6868